Nguyễn Phúc Nguyên – Wikipedia tiếng Việt

Nguyễn Phúc Nguyên (chữ Hán: 阮福源; 16 tháng 8 năm 1563 – 19 tháng 11 năm 1635) hay Nguyễn Hy Tông, Nguyễn Tuyên Tổ, là vị chúa Nguyễn thứ hai của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam (ở ngôi từ 1613 đến 1635) sau chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Trong thời gian ở ngôi chúa, ông đã xây dựng một vương triều độc lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai khỏi chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài. Ông được dân chúng gọi là chúa Sãi, chúa Bụt hay Phật chúa.

Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ sáu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525–1613), mẹ là Nguyễn thị. Ông sinh ngày 28 tháng 7 năm Quý Hợi, tức ngày 16 tháng 8 năm 1563. Nguyễn Phúc Nguyên là người đầu tiên trong dòng dõi chúa Nguyễn mang họ kép Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mang thai, mẹ ông chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ “Phúc”. Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là “Phúc”.[2] Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên.[2] Theo sách Đại Nam thực lục, sau khi kế nghiệp Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên cho sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục, bấy giờ người ta gọi là Chúa Phật. Từ đấy mới xưng quốc tính là họ Nguyễn Phúc hay Nguyễn Phước.[3]

Các con của Nguyễn Hoàng, người con đầu là Nguyễn Hà, con thứ là Nguyễn Hán, con thứ ba là Nguyễn Diễn và con thứ tư là Nguyễn Thành đều đã mất sớm ; người con thứ năm là Nguyễn Hải ở lại Bắc Hà làm con tin, chỉ còn Nguyễn Phúc Nguyên là người có năng lực thừa kế cơ nghiệp của Nguyễn Hoàng. Năm 1585, khi mới 22 tuổi, Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên dẫn một hạm chiến 10 chiếc đến bến Cửa Việt, tàn phá hai chiếc tàu hải tặc Shirahama Kenki [ 4 ] [ 5 ] ( Bạch Tần Hiển Quý ), người Nhật Bản. Chúa Tiên ( tức Nguyễn Hoàng ) vui mừng khen rằng :

Con ta thực là anh kiệt.[1]

Năm Nhâm Dần (1602), Nguyễn Phúc Nguyên được cử đến trấn thủ dinh Quảng Nam.[1] Nguyễn Phúc Nguyên tuổi lớn lại giỏi, ngày thường cùng các tướng bàn luận việc binh, tính toán có nhiều việc đúng. Nguyễn Hoàng biết có thể trao phó nghiệp lớn.

Điều hành Đàng Trong[sửa|sửa mã nguồn]

Những năm cuối đời, Nguyễn Hoàng hình thức bề ngoài tuy chưa chống đối họ Trịnh nhưng bên trong đã rất là phòng bị. [ 6 ]

Tháng 6 năm 1613, Nguyễn Hoàng trước khi mất dặn Nguyễn Phúc Nguyên rằng: Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang Hoành Sơn và sông Gianh Linh Giang hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia Thạch Bi sơn vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta.

Các quan vâng di chiếu tôn Phúc Nguyên làm Thống lãnh Thủy bộ Chư dinh kiêm Tổng Nội ngoại Bình chương Quân quốc Trọng sự Thái bảo Thụy Quận công.[1] Bấy giờ ông đã 51 tuổi. Ông còn được vua Lê Kính Tông (1599 – 1619) sắc phong làm trấn thủ hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam gia hàm Thái bảo, tước Quận công.[1][7]

Điều hành Đàng Trong[sửa|sửa mã nguồn]

Sau khi kế nghiệp Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục, bấy giờ người ta gọi là Chúa Phật. Từ đấy mới xưng quốc tính là họ Nguyễn Phúc. [ 3 ] Năm 1600, khi Nguyễn Hoàng còn sống, đã dời dinh về Ái Tử, nay Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh về những xã Phúc Yên, Bác Vọng thuộc huyện Quảng Điền, sai con là Khánh Mỹ hầu trấn thủ Quảng Nam. [ 8 ]Năm 1620, hai người con thứ bảy, thứ tám của Thái Tổ Nguyễn Hoàng là Q. Văn Tôn Thất Hiệp và Q. Hữu Tôn Thất Trạch thủ đoạn làm mưa làm gió, tự mình làm nội ứng, hẹn khi nên việc thì họ Trịnh phải cho hai người trấn giữ đất Đàng Trong. Trịnh Tráng điều đô đốc Nguyễn Khải đem 5.000 quân đóng ở Nhật Lệ ( thuộc huyện Phong Lộc ) để đợi tin. Nguyễn Phúc Hiệp và Nguyễn Phúc Trạch sợ Chưởng cơ Tôn Thất Tuyên, [ a ] không dám hành vi. [ 9 ]

Nguyễn Phúc Nguyên họp bàn với các tướng bàn kế chống Trịnh, Hiệp và Trạch giả vờ nói với chúa Nguyễn rằng: Tuyên trí dũng hơn người, nếu sai cầm binh, hẳn phá được giặc. Tôn Thất Tuyên biết hai người làm phản, bèn nói với chúa: Nếu thần dời bỏ dinh thì sợ có nội biến. Nguyễn Phúc Nguyên sai Chưởng dinh Tôn Thất Vệ, anh trai Tôn Thất Tuyên đem quân chống tướng Nguyễn Khải của họ Trịnh.[9]

Hiệp và Trạch thấy mưu không xong, bèn đem quân chiếm giữ kho Ái Tử, đắp lũy Cồn Cát để làm phản. Chúa sai người đến dỗ, nhưng không chịu nghe. Chúa bèn lấy Tôn Thất Tuyên làm tiên phong, tự đem đại binh đi đánh. Hiệp và Trạch thua chạy, Tuyên đuổi bắt được đem dâng. Phúc Nguyên trông thấy, chảy nước mắt nói: Hai em sao nỡ trái bỏ luân thường? Hiệp, Trạch cúi đầu chịu tội. Chúa muốn tha, nhưng các tướng đều cho là pháp luật không tha được. Bèn sai giam vào ngục. Hiệp và Trạch xấu hổ sinh bệnh chết. Nguyễn Khải nghe tin dẫn quân trở về. Nhà Trịnh vô cớ đem phát binh, từ đó Nguyễn Phúc Nguyên không nộp thuế cống nữa.[9]

Năm 1622, Chúa Sãi cho đặt dinh Ai Lao, do đất này có sông Hiếu là giáp ranh với đất Ai Lao và những bộ lạc Man Lục Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp, đều có đường thông đến đây. Mộ dân những nơi chia làm sáu thuyền quân để coi giữ. [ 10 ]

Năm 1626, Chúa cho dời cung phủ về làng Phước Yên, xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, gọi nơi chúa ở là phủ.[1]

Được sự tiến cử của Khám lý Trần Đức Hòa, Chúa Phúc Nguyên đã thu dụng Đào Duy Từ ( 1572 – 1634 ). Nhờ có sự hiến kế của Đào Duy Từ, ông đã cho xây Lũy Thầy ( lũy Trường Dục, lũy Nhật Lệ và lũy Trường Sa ) ; tạo thành một thế vững chãi cho xứ Đàng Trong, thiết kế xây dựng chính quyền sở tại độc lập với Đàng Ngoài .Do nhu yếu tăng trưởng lực lượng chống Trịnh, Chúa mời cha con nhà Jean De La Croix ( Bồ Đào Nha ) từ Hội An ra Huế giúp nhà Chúa mở xưởng đúc vũ khí đạn dược. Jean De La Croix cần có nơi hành lễ hàng tuần và sau đó nhà thời thánh Cơ đốc giáo tiên phong Open trên đất Huế .Năm 1631, Chúa lập ra sở đúc súng đại bác, mở trường bắn, trường tập voi, tập ngựa, cứ hằng năm rèn luyện để phòng bị cuộc chiến tranh .
Chúa Phúc Nguyên đã thực thi cải tổ lại cỗ máy hành chính. Lãnh thổ được chia theo Thừa Tuyên hay Xứ, phân thành Chính Dinh, Dinh ngoài. Dưới dinh là những phủ huyện. Được chia ra bảy dinh : Chính Dinh ( Phú Xuân ), Cựu Dinh ( Ái Tử – Quảng Trị ), Quảng Bình, Vũ Xá, Bố Chính, Quảng Nam và Trấn Biên .Mỗi dinh hoàn toàn có thể coi như một tỉnh lúc bấy giờ. Hành chính có chức quan lưu thủ đứng đầu, quân sự chiến lược thì có chức quan tuần thủ chỉ huy .
Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồHội An trong bức họaChúa Nguyễn Đàng Trong đã chú trọng tăng trưởng ngoại thương, tận dụng lợi thế địa lý, yếu tố chính trị như nằm trên lối ra vào giao thương mua bán đường thủy Đông Á với phương Tây, Mạc Phủ Nhật Bản phải dùng Châu Ấn Thuyền để qua đây thanh toán giao dịch mua và bán hàng hoá ( do nhà Minh cấm mua và bán với Nhật Bản ) .Chúa Nguyễn đã lập ở Hội An một mạng lưới hệ thống hành chính hoạt động giải trí rất hiệu suất cao ( đặt tại Dinh trấn Thanh Chiêm ) cách Hội An khoảng chừng 10 km. Chính sách định cư lúc đó thoáng hơn cả. Người Nhật, người Hoa được định cư lâu dài hơn, được lập phố riêng, gọi là phố Khách, phố Nhật. Thậm chí người Nhật, người Hoa được lập khu hành chính riêng, tự quản. Năm 1618, vị thị trưởng phố Nhật ở Hội An tiên phong được Chúa Nguyễn công nhận là một chủ tàu kiêm nhà buôn tên là Furamoto Yashiro. Trong 19 khu vực người Nhật đến kinh doanh thì có bốn nơi họ được lập phố riêng .Giáo sĩ Christoforo Borri đã cư trú tại Hội An năm 1618 miêu tả đô thị :

“Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam…”
“Thành phố rộng rãi, có thể nhận ra hai khu vực, một khu vực do người Hoa ở, khu vực kia thì người Nhật Bản ở.”
“Người Hoa và Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên, năm nào cũng mở và kéo dài trong bốn tháng. Người Nhật thường đem lại 4, 5 vạn nén bạc, người Trung Hoa thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ.”
“Do chợ này mà Quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc nhờ vậy cũng được nhiều lợi ích.”

Một năm sau khi lên ngôi Chúa ( năm 1614 ), Nguyễn Phúc Nguyên quyết định hành động bãi bỏ Đô ty, Thừa ty, Hiến ty, là thiết chế quân sự chiến lược của mạng lưới hệ thống chính quyền sở tại nhà Lê. Trong những năm 1614 và 1615, ông tổ chức triển khai lại việc quản lý, đặt ra tam ti tại Chính dinh và những chức lệnh sử để trông coi mọi việc, định quy định những chức vụ ở phủ, huyện, phân loại ruộng đất ở thôn xã. [ 1 ]Tam ti là : Xá sai ti, Tướng thần lại ti, Lệnh sử ti .

  • Xá sai ti: giữ việc từ tụng văn án. Có quan Đô tri, Ký lục làm đầu.
  • Tướng thần lại ti: giữ việc thu tiền thu thuế, chi phát lương thực cho quan các đạo. Có quan Cai bạ làm đầu.
  • Lệnh sử ti: giữ việc tế tự, tết nhất và việc chi cấp lương cho quân ở Chính Dinh. Có quan Nha úy làm đầu.
  • Mỗi ti lại có quan Cai hợp, Thủ hợp và các lại ti để làm mọi việc.

Bên cạnh đó còn những ty Nội Lệnh sử kiêm coi những thứ thuế, Tả Lệnh sử và Hữu Lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư ở hai xứ về nộp Nội phủ .Tại những dinh ở ngoài, tùy theo từng nơi, có nơi Chúa chỉ đặt một Lệnh sử ti kiêm cả việc Xá sai ti và Tướng thần lại ti, nhưng cũng có nơi đặt hai ti là Xá sai ti và Tướng thần lại ti, có nơi thì đặt Xá sai ti và Lệnh sử ti để coi việc quân dân, đinh điền, sổ sách, từ tụng, thuế khóa … nghĩa là tùy nơi quan trọng hay là không, mà thêm bớt quan viên .Đầu năm 1615, những quy định mới về chức trách và quyền hạn của những phủ, huyện được phát hành. Theo quy định này thì ở phủ huyện, Tri phủ, Tri huyện coi việc từ tụng ; những thuộc hạ thì có : Đề lại, Thông lại chuyên việc tra khám. Huấn đạo, Lễ sinh chuyên việc tế tự ở chỗ thường trực. Còn việc thu thuế thì đặt quan khác để coi về việc ấy .Về đàng quan võ thì đặt chức : Chưởng dinh, Chưởng cơ, Cai cơ, Cai đội để coi việc binh .Quan lại ở Bắc Bổ được bổ vào xứ Thuận Quảng cho đến khi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế cho nhà Lê .

Chiến tranh với họ Trịnh[sửa|sửa mã nguồn]

Căng thẳng giữa Nguyễn Phúc Nguyên và Trịnh Tùng ngày càng tăng khi ông tỏ ra không phục tùng họ Trịnh. Năm 1620, Chúa Phúc Nguyên ngừng nộp thuế cho chính quyền sở tại Lê-Trịnh Đàng Ngoài. [ 11 ] Hai người em của Nguyễn Phúc Nguyên gửi mật thư xin họ Trịnh phát binh, tự mình làm nội ứng, hẹn khi nên việc thì chia Đàng Trong cho trấn giữ. Chúa Trịnh là Trịnh Tráng sai tướng đem 5.000 quân chờ ở cửa Nhật Lệ chờ đón tin. Nguyễn Phúc Nguyên sai tướng dẹp được hai người em ; quân Trịnh rút về Bắc, Phúc Nguyên thấy chúa Trịnh vô cớ phát binh, từ đó không nộp thuế cống nữa .Tháng 6 năm 1623, Nguyễn Phúc Nguyên nghe tin Trịnh Tùng chết, vẫn sai sứ đến phúng. [ 10 ]

Cuộc chiến tiên phong 1627[sửa|sửa mã nguồn]

Năm 1624, nhân khi nhà Minh đang chống chọi với nhà Thanh, và họ Trịnh mới diệt được Mạc Kính Cung ở Cao Bằng, Chúa Trịnh Tráng mới sai Công bộ thượng thư Nguyễn Duy Thì và nội giám Phạm Văn Tri vào Thuận Hóa đòi tiền thuế từ ba năm về trước. Chúa Sãi tiếp sứ nói rằng: Hai xứ Thuận Quảng liền mấy năm không được mùa, dân gian túng đói, vì thế không nỡ thu thuế. Khi khác được mùa sẽ chở nộp cũng chưa muộn. Sứ giả không biết nói gì, bèn từ biệt về.

Chúa Trịnh lại sai sứ mang sắc vua Lê vào dụ Chúa Sãi cho con ra chầu, và đòi nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền để đưa đi cống nhà Minh. Chúa Sãi không chịu .Chúa Trịnh thấy vậy, bèn quyết ý đánh họ Nguyễn. Tháng 3 năm 1627, sai Nguyễn Khải và Nguyễn Danh Thế đem 5.000 quân đi làm tiên phong vào đóng ở xã Hà Trung ( tục gọi là Cầu Doanh ), còn Chúa Trịnh Tráng thống lãnh 20 vạn đại quân thủy bộ, hai đạo tiến vào hội binh ở cửa Nhật Lệ .Chúa Sãi cử những tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Phúc Vệ và Nguyễn Phúc Trung đón đánh .Quân Trịnh dữ thế chủ động tiến công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Phía Nguyễn có lợi thế là đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên làm quân Trịnh sợ chạy dạt. Hai tướng Trịnh là Nguyễn Khải và Lê Khuê đều thua chạy .Trong lúc hai bên liên tục giằng co thì tướng Nguyễn Hữu Dật phao tin là Trịnh Gia và Trịnh Nhạc mưu phản ở miền Bắc. Chúa Trịnh Tráng hoài nghi vội rút quân về bắc .Năm 1630, Chúa Sãi đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc cho vua Lê – chúa Trịnh [ 12 ] và khuyên nên đánh lấy đất Nam Bố Chính [ b ] để lấy sông Gianh làm biên giới phòng thủ tự nhiên ( 09-1630 ) .

Cuộc chiến thứ hai 1633[sửa|sửa mã nguồn]

Khi quân Trịnh thu quân, Chúa Sãi theo kế của Đào Duy Từ hối hả xây lũy Trường Dục ( lũy Thầy ) để phòng thủ .

Năm 1631, con trưởng của Sãi vương là Nguyễn Phúc Kỳ qua đời, con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan được làm Thế tử, con thứ tư là Nguyễn Phúc Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Anh bất mãn vì không được lập làm thế tử, cho nên mưu thông đồng với chúa Trịnh, bèn viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng.

Năm 1633, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng rước vua Lê đem binh nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ như trước. Sãi vương cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. Chúa Trịnh đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Phúc Anh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh bồn chồn tan vỡ bỏ chạy. Thanh Đô Vương rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính .
Tháng 4 năm Tân Dậu ( 1621 ), bọn thổ mục Lục Hoàn ( tức Lạc Hòn ) thuộc Lan Xang thả quân qua sông Hiếu sang cướp bóc ở biên thùy, Sãi vương sai Tôn Thất Hòa đi đánh .Hòa chia quân phục ở những đường trọng điểm, sai những lái buôn mua và bán để nhử. Quả nhiên quân Man đến cướp nhưng bị phục binh bắt được hết đem về. Chúa muốn lấy ân tín vỗ về người đất xa, bèn sai cởi hết trói và thả về nên làm người Man cảm phục, từ đấy họ không quấy nhiễu nữa. [ 1 ] [ 13 ]
Về cuộc Nam tiến, Chúa Sãi dùng chủ trương độc lập với Chân Lạp ( Campuchia ). Năm 1620, ông gật đầu lời hỏi cưới con gái ông của quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II, gả con gái là Ngọc Vạn cho Chey Chetta II. [ 14 ] Chey Chetta II đã xin chúa viện trợ vũ khí và quân đội để chống lại sự rình rập đe dọa của Xiêm La ( Vương Quốc của nụ cười ). Trên thực tiễn thì Chúa Sãi đã chuẩn bị sẵn sàng vũ khí và mộ binh giúp vua Chân Lạp, phân phối cho ông này thuyền chiến và quân binh để cầm cự chống Xiêm. [ 14 ]Chúa Sãi hai lần giúp con rể Chey Chetta II đẩy lui quân Xiêm sang xâm lược. Giáo sĩ người Ý tên Christoforo Borri ở Quy Nhơn đã nhìn thấy viện binh hỗ trợ từ Đàng Trong tiến sang Cao Miên, nên đã ghi lại trong cuốn Hồi ký của mình ( xuất bản năm 1631 ) như sau : [ 15 ]

Chúa Nguyễn luôn luyện tập binh sĩ và gởi quân đội giúp vua Cao Miên, tức chàng rể chồng của con chúa. Chúa viện trợ cho vua Cao Miên thuyền bè, binh lính để chống lại vua Xiêm…

Năm 1623, một sứ bộ Đàng Trong được cử tới Oudong, đem theo thư cùng nhiều tặng phẩm để tỏ tình thân hữu và bảo vệ sự ủng hộ của chúa Phúc Nguyên, và đã thương lượng thành công xuất sắc với vua Chey Chetta II, được đồng ý chấp thuận nhượng vùng đất Mô Xoài, [ c ] lập một thương điểm ( đồn thu thuế ) là Prei Nokor [ d ] để triển khai thu thuế .Triều đình Đàng Trong còn phái tướng lĩnh đem quân đóng đồn binh ở Prei Nokor để bảo vệ lưu dân người Việt làm ăn, kinh doanh, khai hoang và đồng thời giúp chính quyền sở tại Chân Lạp gìn giữ trật tự. Khi Chey Chetta II mất, vùng đất từ Prei Nokor trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành ( tức là TP HCM, Bà Rịa và Biên hòa ngày này ) đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai. [ 16 ]

Năm 1629, lưu thủ Phú Yên là Văn Phong liên kết với người Chăm Pa nổi lên chống lại chúa Nguyễn. Cũng có thuyết nói rằng Po Rome ngầm liên kết với Văn Phong, nhưng không ra mặt trực tiếp vì sợ đối phương vin vào cớ đó để xâm lược.[cần dẫn nguồn]

Địch đã tập trung chiến binh tại những địa thế căn cứ trên đất Kauthara ( bắc Khánh Hòa ngày này ) gần khu vực biên thùy tiếp giáp phủ Phú Yên của Đàng Trong, đại quân hai đường thủy bộ khẩn trương xuất kích .Lũy Choại [ e ] nằm ở bờ Nam sông Đà Diễn [ f ] là một trong những tiền đồn vững chắc quân Nguyễn dựng lên từ thời Lương Văn Chánh mà cánh quân bộ của Chăm Pa phải dùng đại bác Bồ Đào Nha và voi chiến để vượt qua. Còn đoàn con thuyền sau khi tập kích yểm trợ bộ binh vượt sông ở cửa sông Đà Diễn, đã nhanh gọn tiến lên phía Bắc vào cửa biển Bà Đài. Tại đây, Văn Phong và lực lượng nội ứng của ông ta nhận được sự tiếp chiến của đại quân người Chăm, đã làm chủ phủ lỵ Hội An nằm kề trên bờ vịnh. Phủ Qui Nhân phía Bắc núi Cù Mông đặt trong thực trạng khẩn cấp, huy động binh thuyền ra cửa Thi Nại chặn đường tiến của hạm quân Chăm Pa và Văn Phong .Tin Văn Phong làm phản về đến dinh Chúa. Do quân Trịnh hoàn toàn có thể đánh bất kỳ khi nào, nguy cả mặt trên và dưới nên buộc Chúa Sãi phải tạm nhận sắc phong của sứ giả triều đình Lê – Trịnh và nhận lệnh chỉ ra Đông Đô đánh quân Mạc .Chúa Sãi cử Phó tướng Nguyễn Hữu Vinh [ g ] đem quân dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên. [ 17 ]Quân Trịnh đã không mở cuộc tiến công như mật tin tình báo, sau vài trận giao tranh thăm dò, nhận thấy binh sĩ đối phương có phần áp đảo, Văn Phong điều đình với những tướng lĩnh Chăm, để bảo toàn lực lượng đã cho quay về phòng thủ tại phía Nam dãy Đại Lĩnh. Văn Phong đã mang theo những thủ lĩnh, lãnh chúa địa phương mà ông hợp tác và đội quân do ông tập hợp được về với Chăm Pa cùng nhiều kho tàng, của cải .Từ cuối thế kỷ 16, người Chăm tăng trưởng ngoại thương rất mạnh, thường kinh doanh với người Trung Quốc, Hà Lan, nhất là Bồ Đào Nha ở Ma Cao. Thương thuyền Bồ Đào Nha hay ghé kinh doanh trao đổi với người Chiêm ở hải cảng Cam Ranh và Phan Rang. Sự liên hệ này khiến chúa Sãi lo lắng người Chăm sẽ link với Bồ Đào Nha để chống lại mình .Năm 1631, chúa gả con gái là Ngọc Khoa ( có sách gọi là Ngọc Hoa ) cho vua Chăm Pa là Po Rome. Cuộc hôn phối này làm quan hệ Việt – Chăm diễn ra tốt đẹp. [ 18 ] [ 19 ] Sự kiện này tạo sự không thay đổi cho Đàng Trong ở mặt phía Nam, giúp cho chúa Nguyễn hoàn toàn có thể tập trung chuyên sâu lực lượng để đối phó trước những cuộc tiến công của chúa Trịnh Đàng Ngoài .

Trên thư đóng dấu ấn triện Trấn thủ tướng quân chi ấn (鎮守將軍之印), cùng dòng chữ: An Nam quốc thiên hạ thống binh đô nguyên soái Thụy Quốc công (安南國天下統兵都元帥瑞國公).Bức thư Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên gửi cho Tokugawa Ieyasu Trên thư đóng dấu ấn triện Trấn thủ tướng quân chi ấn ( 鎮守將軍之印 ), cùng dòng chữ : An Nam quốc thiên hạ thống binh đô nguyên soái Thụy Quốc công ( 安南國天下統兵都元帥瑞國公 ) .Thời Chúa Phúc Nguyên giao thương mua bán Việt – Nhật càng mở mang tăng trưởng hơn. Chúa cho người Nhật mở thương điếm tại Hội An. Chúa đích thân viết thư mời những thương nhân quốc tế vào làm ăn tại Hội An. Năm 1634, Chúa Sãi gửi thư cho thương gia người Nhật là Toba, ông này được Chúa nhận làm con nuôi .Năm 1619, Chúa Phúc Nguyên gả một con gái của mình [ 20 ] cho Araki Sutaru – một thương nhân người Nhật làm chủ shop lớn ở Hội An và có tàu viễn dương, [ 21 ] nhằm mục đích nhờ tàu của Araki đi mua sắt kẽm kim loại, diêm tiêu từ Áo Môn, Quảng Đông và Trường Kỳ về. Nhờ vậy mà quân đội của chúa Nguyễn được trang bị rất rất đầy đủ và chống đỡ được những cuộc tiến công của quân Trịnh. [ 22 ]Hai người con nuôi và con rể của Chúa Phúc Nguyên này đã sở hữu 17 chiếc thuyền trong tổng số 84 chiếc thuyền buôn của Nhật đến Đàng Trong từ năm 1604 – 1635. [ 23 ]Chúa Nguyễn cũng có một loạt những bức thư trao đổi về ngoại giao và thương mại với chính quyền sở tại Mạc phủ Tokugawa ( Nhật Bản ) thời bấy giờ. Những văn bản An Nam Quốc Thư này hiện tàng trữ tại National Archives of Nhật Bản ( 国立公文書館 ) .Từ năm 1604 đến năm 1634 ( Nguyễn Phúc Nguyên được giao là Trấn thủ dinh Quảng Nam năm 1602 ), Mạc phủ đã cấp 130 giấy phép đến sáu cảng thuộc khu vực tương tự với Nước Ta lúc bấy giờ. Riêng cảng Hội An có 86 thuyền được cấp giấy phép chiếm 25,98 % số giấy phép cấp cho hàng loạt khu vực Khu vực Đông Nam Á, gấp gần năm lần tỷ số trung bình chung trong khu vực, chiếm 66,15 % số giấy phép cấp cho hàng loạt khu vực Nước Ta, gấp sáu lần tỷ số trung bình chung cho Nước Ta. [ 24 ]

Các sự kiện khác[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 7, các tàu này rời Vịnh Đà Nẵng, ngày 21 thì gặp bão ngoài khơi, nên lạc nhau. Chiếc tàu Vin-hu-zen tới Đài Loan ngày 2 tháng 8, chiếc Scha-zen tới ngày 10 cùng tháng. Riêng chiếc Grootebroek bị đắm gần đảo Paracel ở vĩ tuyến 17° Bắc. Thương gia Jean de Sormeau cùng 8 thủy thủ đoàn đã hy sinh. Trong số hàng hóa trị giá 153.690 florins, thì số hàng hóa chìm cùng tàu là 70.695 florins. Phần còn lại được thủy thủ cứu và cất dấu nơi an toàn tại đảo. Thuyền trưởng Huijich Jansen và 12 thủy thủ đi bằng thuyền nhỏ vào duyên hải xứ Đàng Trong…
Thuyền trưởng Jansen làm báo trình về việc thuyền Grootebroek bị đắm tại Paracels và sự tịch thu 23.580 réaux bởi nhà chức trách xứ Đàng Trong.

Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên qua đời ngày 19 tháng 11 năm 1635, hưởng thọ 73 tuổi. Thế tử Nhân Lộc hầu Nguyễn Phúc Lan lên kế nghiệp, tức Thượng vương. Đình thần dâng Phúc Nguyên thụy hiệu là Đại đô thống trấn Nam phương Tổng quốc chính Dực Thiện Tuy Du Thụy Dương vương. Ban đầu an táng tại Sơn Phận, huyện Quảng Điền; sau cải táng về vùng núi Hải Cát, Hương Trà, Thừa Thiên. Tên lăng là Trường Diễn. Đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, Phúc Nguyên được truy tôn là Tuyên tổ Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn vương. Sau này, vua Gia Long truy tặng Phúc Nguyên miếu hiệu Hy Tông, thụy hiệu Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn Hoàng đế.[26]

Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên có mười hai công tử và bốn công nữ : [ 27 ]

  • Chính thất Mạc Thị Giai (1578 – 1630), mẹ sinh của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan. Gia Long lên ngôi, truy tặng bà thụy hiệu là Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng hậu.

Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được xem là vị chúa tiên phong thiết kế xây dựng cơ nghiệp Đàng Trong của nhà Nguyễn với ý chí cương quyết, tạo nên một xứ Đàng Trong độc lập, tự chủ. Ông đã chỉnh đốn việc quản lý, củng cố quốc phòng, biết dùng người tài để chăm sóc việc nước nên nhân dân được định cư lạc nghiệp. Ngoài ra, ông còn đẩy lui được những cuộc tiến công của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. [ 1 ]Ông đã tạo nên một nền ngoại thương hàng hải mạnh, với thương cảng Hội An trở thành thương cảng chính không riêng gì của Đàng Trong mà trên toàn khu vực tương tự với Nước Ta và Khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ .Ông cũng được xem là nhân vật có vai trò then chốt trong cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn, một cuộc nội chiến ác liệt, lê dài và không phân thắng bại ; nó tiêu hủy sức người, sức của, và dẫn đến chia cắt sự thống nhất của vương quốc Đại Việt. Nhưng chính sách Đàng Trong của chúa Nguyễn đã thực thi những chủ trương quản lý cải cách, khác với Đàng Ngoài, lúc đó đang theo xu thế hoài cổ Nho giáo thời Lê sơ, ngưng trệ sự tăng trưởng của xã hội. Về mặt khách quan, cuộc nội chiến có lợi cho xu thế tăng trưởng của lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa .
Tên ông được đặt tên cho một con đường ở Quận 3, Thành phố Hồ Chí MinhMột cụm rạn sinh vật biển ở phía nam Biển Đông cũng được đặt tên ông, gọi là bãi Phúc Nguyên .Hình ảnh của ông được thờ cúng trong khu Nam Phương Linh Từ, ở Đồng Tháp .

  1. ^ con thứ tư của Hòa Q. công Tôn Thất Hà
  2. ^ Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình thời nay. Phần đất từ Bắc sông Nhật Lệ đến Nam sông Gianh .
  3. ^ Vùng đất Mô Xoài gồm có phần nhiều đất đai của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày này .
  4. ^ Nay là vùng Chợ Lớn, nằm bên bờ rạch Bến Nghé ( hay kênh Tàu Hủ, gọi là rạch Hồ Chí Minh – khu Chợ Lớn từ năm 1859 ) .
  5. ^

    Cổ danh là Vườn tre ông Phù Già, bọc xung quanh những giồng đất cao trồng khoai, mía. Khảo sát thực địa vào năm 1965 của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư cho biết phía Nam vườn tre có cánh đồng rộng gọi là Lũy Choại Xứ (lũy: bờ thành; choại: thoai thoải, không cao lắm do thời gian bào mòn).

  6. ^ Nay là sông Đà Rằng, Thành phố Tuy Hòa, Phú Yên
  7. ^ Con trưởng Mạc Cảnh Huống, lấy công chúa Ngọc Liên
  • Tôn Thất Bình (2006). Kể chuyện chín chúa mười ba vua triều Nguyễn, Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ
  • Bích Ngọc (3/2009). Sãi Vương Nguyễn Phúc NguyênKể chuyện lịch sử Việt Nam, Việt Nam: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Source: https://listbds.com
Category: DỰ ÁN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *